GIới thiệu chung GIới thiệu chung

Giới thiệu về xã Thượng Mỗ
Ngày đăng 25/02/2021 | 09:59  | Lượt xem: 7738

Xã Thượng Mỗ - Thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, xã Thượng Mỗ có bề dày lịch sử hàng nghìn năm. Trải qua bao thăng trầm, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của ông cha, từ một xã được cho là nghèo khó của huyện Đan Phượng, đến nay, xã Thượng Mỗ đã có bước chuyển mình phấn đấu là một trong những xã đang phát triển của huyện.

    Xã Thượng Mỗ trên bản đồ hành chính huyện Đan Phượng

      Thượng Mỗ là một trong 16 xã, thị trấn của huyện Đan Phượng, nằm bên hữu ngạn sông Hồng, có 2 tuyến đê bao quanh ngăn lũ sông Hồng và sông Đáy. Cách trung tâm huyện Đan Phượng 3 km; Phía Bắc và phía Đông  giáp xã Hạ Mỗ và xã Trung Châu; phía Nam giáp xã Tân Hội; phía Tây giáp 2 xã: Đan Phượng và Phương Đình.

      Địa hình xã tương đối bằng phẳng, được hình thành từ trầm tích phù sa bồi đắp qua hàng triệu năm. Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 354,42 ha, trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 255 ha. Với vị trí địa lý khá thuận lợi, Thượng Mỗ có thế mạnh về phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa nước, rau màu, cây ăn quả, cây công nghiệp cũng như thâm canh tăng vụ và phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm.

      Trước Cách mạng tháng Tám, Thượng Mỗ là 2 xã độc lập (Thượng Mỗ và Phù Trung). Tục gọi Thượng Mỗ là Mỗ Thượng hay Mố Thượng, vào thời Lý thuộc huyện Vĩnh Khang, phủ Ứng Thiên; thời Trần thuộc huyện Vĩnh Thuận, phủ Hà Đông. Đầu thế kỷ 19, Thượng Mỗ và Phù Trung là 2 trong 6 xã thuộc tổng Thượng Hội, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Đầu thế kỷ 20, xã thuộc tổng Thượng Hội, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Đến tháng 3 năm 1947, huyện Đan Phượng sáp nhập về Hà Nội. Sau nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, đến ngày 01/8/2008, tỉnh Hà Tây sáp nhập vào thủ đô Hà Nội, từ thời gian đó đến nay, xã Thượng Mỗ là xã trực thuộc huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

        Tính đến thời điểm tháng 10/2022, toàn xã có 2.242 hộ, với số khẩu là 9.901 khẩu, có 48 khẩu theo đạo Thiên chúa giáo. Xã có 8 thôn, chia làm 2 miền, miền Đồng (4 thôn) và miền Bãi (4 thôn). Xã Thượng Mỗ có 3 đình, 4 chùa, 1 đền. Trong đó, có 04 di tích đã được UBND tỉnh Hà Tây (cũ) xếp hạng di tích lịch sử: Đền Đầm Giếng, Đình Trung, Đình Trung Hiền, Chùa Trung Hiền.

      Tướng ông trong lễ hội truyền thống tại Đền Đầm Giếng - xã Thượng Mỗ

       Về tín ngưỡng tôn giáo, người Thượng Mỗ chủ yếu thờ cúng Tổ tiên và Phật giáo, một số ít theo Thiên chúa giáo. Tuy nhiên, cho dù theo tôn giáo hay không theo tôn giáo, người dân nơi đây cũng đều xác nhận mình là đồng bào, đồng hương, thậm chí cùng chung huyết thống tộc họ, từ đó luôn sống tương thân tương ái, sẵn sàng cưu mang đùm bọc lẫn nhau trong lúc gian nan, khi hoạn nạn, cho nên trải qua bao nhiêu trầm luân dâu bể mà trên đất Thượng Mỗ vẫn không hề xảy ra chuyện kỳ thị lương - giáo.

      Thượng Mỗ còn nổi tiếng khắp vùng về làn điệu Ca trù. Nơi đây là cái nôi hát ca trù của vùng quê Đan Phượng. Theo thần tích và truyền thuyết dân gian, vào thế kỷ thứ 17, thời Lê Trung Hưng, trong dòng tộc Nguyễn Duy xuất hiện một người con gái kỳ tài tên gọi là Nguyễn Thị Hồng rất mực hiền thục, tư chất thông minh. Vốn con nhà gia thế nên từ nhỏ bà đã được cha mẹ cho theo học thầy đồ nổi tiếng họ Lưu. Bà rất giỏi thơ ca, lại hay nghề đàn hát, nhà trò (hay còn gọi là hát ả đào, hát ca trù) - một lối hát cung đình thanh tao, quý phái mà thời bấy giờ đều ngưỡng mộ. Người ta thường gọi bà với cái tên trìu mến là “Đào nương” do bà có công dạy hát cho 12 dòng họ trong làng. Từ trong xóm nhỏ đều vang lên những tiếng trống, tiếng đàn, nhịp phách hòa trong giọng hát du dương, trầm bổng. Tiếng đồn bay đến kinh đô, khi du ngoạn và ngự giá ở Thượng Mỗ, nhà vua hết sức ngạc nhiên bởi một thôn nữ chân lấm tay bùn nhưng sắc nước hương trời, giọng hát hay như chim hót, khẩu khí ứng phó trôi chảy như một trang kiệt nữ. Bà được nhà vua sủng ái, phong Đệ nhị cung phi Hoàng hậu, phụ trách các phi tần, dạy lễ nhạc trong Nội Điện, đặc biệt là dạy hát ca trù. Khi mất, bà được an táng tại cánh đồng làng Thượng Mỗ. Nhân dân thương tiếc người phụ nữ tài sắc vẹn toàn, đã lập đền thờ bà bên Đầm Giếng. Cứ 3 năm một lần, vào ngày 2/3 Âm lịch – ngày hóa của bà, nhân dân địa phương lại tổ chức lễ tế trọng thể tại Đền để tưởng nhớ công đức của bà. Bài văn tế “Đệ nhị cung phi” cùng cuốn thần tích được trân trọng, giữ gìn.

NSND Minh Tam (bên phải ngoài cùng) và thành viên CLB Ca trù biểu diễn trong Liên hoan Ca trù toàn quốc năm 2019.

        Kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc, dòng họ Nguyễn ở Thượng Mỗ vẫn luôn giữ gìn nghiệp tổ. Nghệ sỹ nhân dân Thương Huyền, người hát ca trù đầu tiên của Đài tiếng nói Việt Nam là người sinh ra tại Thượng Mỗ. Gia đình Nghệ nhân Nguyễn Thị Tam có ba, bốn thế hệ ca trù phục vụ nhân dân địa phương, tham gia liên hoan văn nghệ được tặng nhiều danh hiệu. Xã Thượng Mỗ đã thành lập nhiều câu lạc bộ ca trù để duy trì và phát huy vốn văn nghệ dân gian quý giá, xứng đáng với quê hương “Bà chúa ca trù”. Câu lạc bộ đã được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam công nhận là địa chỉ Văn hóa dân gian vào ngày 21/12/2004.

     Truyền thống yêu nước, ý chí tự lực tự cường của nguời dân Thượng Mỗ bắt nguồn từ nền tảng của dân tộc, từ truyền thống hàng nghìn năm kiên trì chịu đựng và vượt qua mọi khó khăn gian khổ. Lòng yêu nước đã trở thành động lực tinh thần vô cùng mạnh mẽ, thúc đẩy bao thế hệ người dân Thượng Mỗ kiên cường, dũng cảm hy sinh để giành lại và bảo vệ độc lập của quê hương, đất nước. Dưới thời Phong kiến, nhiều lần các toán cướp vào làng quấy nhiễu, các cụ Đoàn Tổng, Cai Già, Bếp Lái đã tập hợp dân làng đánh đuổi bọn cướp, tụi lính phủ về làng vòi vĩnh cũng tìm cách tháo lui. Nhiều người con của quê hương tham gia cuộc đấu tranh giành chính quyền và hy sinh anh dũng trong trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp-Mỹ như: Nguyễn Khắc Xuyên, Hoàng Văn Hồng, Phan Văn Duyệt, Đỗ Văn Cẩn, Hoàng văn Mỡi…

     Đến nay, trên toàn xã có 14 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 44 thương bệnh binh, 88 gia đình liệt sỹ là những minh chứng xác thực nhất cho tinh thần anh dũng, ý chí đấu tranh vì độc lập dân tộc của nhân dân xã Thượng Mỗ.  

      Từ xưa đến nay, người dân nơi đây vốn có truyền thống lao động cần cù và sáng tạo. Thưở mới dựng làng lập ấp, hầu hết dân cư đều sống bằng nghề nông. Nông nghiệp ở Thượng Mỗ phát triển khá mạnh và sớm có ý thức làm ăn tập thể. Nhiều mô hình sản xuất mới được ứng dụng và phát triển tại đây như: VAC, mô hình trồng rau an toàn, nấm sạch, cam canh, bưởi tôm vàng… phát triển và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Bên cạnh đó, một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại cũng bắt đầu phát triển như: nghề mộc, dệt may, cơ khí, sản xuất đồ dùng học sinh…đã giải quyết được vấn đề việc làm cho nhiều người.

      Nhìn lại chặng đường lịch sử kể từ sau ngày quê hương giải phóng, trước bao khó khăn thử thách, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Huyện ủy Đan Phượng và sự quan tâm giúp đỡ của các cấp, các ngành, Đảng bộ và nhân dân xã Thượng Mỗ không ngừng phát huy truyền thống anh hùng cách mạng, đoàn kết chặt chẽ, hăng hái thi đua, chung sức, chung lòng hàn gắn vết thương chiến tranh để xây dựng và phát triển quê hương. Sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, Đảng bộ và nhân dân xã Thượng Mỗ đã có những bước phát triển toàn diện, chính trị ổn định, kinh tế không ngừng được tăng trưởng, nông thôn luôn được đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên, văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, quốc phòng - an ninh được giữ vững; Đảng bộ, chính quyền, mặt trận và các hội đoàn thể luôn là đơn vị vững mạnh, được Đảng bộ và UBND huyện Đan Phượng phong tặng là “Cơ quan văn hóa” năm 2013 và đạt chuẩn Nông thôn mới vào năm 2015, đạt chuẩn Nông thôn mới nâng cao năm 2020.

     Có thể nói, thành quả mà Đảng bộ và nhân dân xã Thượng Mỗ đạt được trong những năm qua được kết tinh bởi sức mạnh của truyền thống quê hương, bởi năng lực sáng tạo, tâm huyết cháy bỏng và sức lao động cần cù của cán bộ, đảng viên và nhân dân toàn xã, cùng với sự quan tâm lãnh đạo, giúp đỡ tạo điều kiện của các cấp, các ngành từ huyện đến thành phố và Trung ương. Thành quả đó cũng là tiền đề hết sức quan trọng để Đảng bộ và nhân dân trong xã tiếp tục đem hết sức mình phấn đấu xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, tiếp tục thực hiện thành công chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông thôn mới kiểu mẫu trong những năm tiếp theo./.